Được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2015, đình Lộ Phong (thuộc khu Hà Phong 3) là nơi lưu giữ một lớp văn hóa bản địa đặc sắc, lịch sử, câu chuyện dân gian của vùng đất. Tên gọi xưa của đình là Lũ Phong Đình, xuất hiện trong các sắc phong thời Tự Đức (1878) và Đồng Khánh (1887) với địa danh “xã Lũ Phong, tổng Cẩm Phả, tỉnh Quảng Yên”.

Theo ghi chép, người Sán Dìu di cư từ phương Bắc đến khai phá đất hoang, lập làng, định cư ở vùng này từ lâu đời. Trải qua nhiều thế hệ tụ cư, khi đời sống vật chất và tinh thần phát triển, nhu cầu sinh hoạt cộng đồng và tín ngưỡng cũng lớn dần, từ đó đình Lộ Phong được dựng nên.
Theo nghiên cứu, đình có niên đại khoảng 200 năm và đây là một thiết chế tín ngưỡng cổ, gắn bó bền chặt với cộng đồng Sán Dìu ở Lộ Phong xưa. Đình được dựng ở vị trí đẹp, quay hướng Đông Nam nhìn ra vịnh Hạ Long, phía sau có núi tựa, hai bên là dãy Đèo Bụt và Đồn Cao, tạo thế “tiền án hậu chẩm”, “tả thanh long, hữu bạch hổ”. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Đỗ Đăng Đường, đình Lộ Phong là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ có giá trị, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu.
Dấu vết của đình cũ nay không còn nguyên vẹn nhưng ghi chép cho biết, ngôi đình cổ từng có quy mô khá lớn, kiểu chữ Đinh, gồm 3 gian 2 chái tiền đường và 2 gian hậu cung, cột lim, mái bốn phía, bên trong có hoành phi, câu đối, đồ thờ sơn son thếp vàng. Nhưng năm 1957, đình bị hỏa hoạn thiêu hủy rồi được tu bổ, khởi công phục dựng lại. Ngôi đình hiện nay tuy không lớn nhưng vẫn mô phỏng dáng nhà bốn mái truyền thống, giữ được thần thái riêng của không gian tín ngưỡng Sán Dìu.

Nét đặc sắc nhất của đình Lộ Phong nằm ở nội dung thờ tự. Tại gian giữa, 12 bát hương thờ 12 vị thần, thành hoàng của làng gồm: Bản Cảnh Đức Bố Nhất Vị Đại Vương, Hàng Chính Bố Nhị Vị Đại Vương, Cao Sơn Bố Tam Vị Đại Vương, Phó Thống Trương Tiên Nhất Lang Đại Vương, Tài Chủ Phúc Lâm Lam Thắng Minh Đại Vương, Thủy Khẩu Tướng Chủ Phòng Cảnh Lão Gia Đại Vương, Lê Thánh Đại Vương, Trương Châu Nhị Lang Đại Vương, Nhị Vị Linh Thần Lam Pháp Hành, Đại Phan Sư Chủ Tạ Tiên Nhị Lang, Tạ Thanh Nhị Lang Đại Vương và Linh Thần Lam Thắng Phúc.
Trong đó, có những vị thần gần gũi với hệ thờ phổ biến của người Việt như Cao Sơn, còn có những vị gắn với từng dòng họ, những người tài giỏi, có công với dân làng, mất vào giờ thiêng nên được nhân dân tôn thờ. Cách xếp 12 bát hương thành hàng ngang sát tường phía sau, thay vì theo trật tự lớp lang như nhiều đình người Việt, cũng là một dấu ấn riêng của đình Lộ Phong.
Không chỉ là không gian tín ngưỡng, đình Lộ Phong còn in đậm dấu ấn cách mạng: nơi thành lập đội du kích (7/8/1951), lập đội chống di cư, bảo vệ máy móc mỏ Hà Tu (8/1954) và tổ chức mít tinh chào mừng Khu mỏ giải phóng (25/4/1955). Từ đình làng, Lộ Phong trở thành điểm tựa tinh thần của phong trào yêu nước, nơi cơ sở kháng chiến bám rễ trong lòng dân.

Bao quanh đình là không gian văn hóa dân gian với hệ thống 5 miếu ngũ phương (Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung tâm), mỗi miếu thờ một vị thần trấn giữ làng. Hiện còn 4 miếu, tạo thành “vòng bảo hộ” linh thiêng trong tâm thức cộng đồng. Gắn liền với đình là lễ hội đình Lộ Phong với hai kỳ: lễ Cầu an đầu xuân (Khíu Phình On) và lễ Cầu mùa (Xịt Nhọt Thai Khíu) từ mồng 10 đến Rằm tháng Bảy.
Lễ Cầu mùa là chính, gồm các nghi lễ tế thần, dâng lễ, cầu mưa thuận gió hòa, xen phần hội với hát Soọng cô, múa gậy, kéo co, ném còn, làm bánh truyền thống…Xen trong phần lễ là phần hội với hát Soọng cô, múa gậy, đẩy gậy, kéo co, ném còn, đánh cầu tay, làm bánh lá dứa, bánh bạc đầu, bánh dầy…
Ngày nay, những sinh hoạt giàu bản sắc đó đang được địa phương dần tái hiện trong các lễ hội đình như: Thi ẩm thực cổ truyền, hát Soọng cô, thể thao truyền thống..., tạo nét đặc sắc, giữ cho mạch nguồn văn hóa tiếp tục trong đời sống hiện đại.
Tạ Quân, Báo và PTTH Quảng Ninh